Phòng Hóa sinh nông nghiệp và tinh dầu

1. Thông tin chung

Trưởng phòng: KSCC. Hoàng Đại Tuấn
Điện thoại: 024.38361604
Fax: 0438361604
Di Động: +84 903443368
E-mail: hudavil@gmail.com
Địa chỉ: Phòng 401, 402 - tầng 4 - nhà 1H, 18 Hoàng Quốc Việt, Q. Cầu Giấy, TP. Hà Nội

Phòng Hóa sinh nông nghiệp và Tinh dầu được thành lập năm 2010 trên cơ sở sát nhập hai mảng tinh dầu và hóa sinh nông nghiệp và nguyên liệu khoáng.

2. Cán bộ đang công tác tại phòng

STT Họ và tên Vị trí công tác
1 KSCC. Hoàng Đại Tuấn Trưởng phòng
2 KS. Nông Quốc Khánh Phó phòng
3 KS. Lưu Văn Toản Nghiên cứu viên
4 ThS. Phạm Thị Huệ Nghiên cứu viên
5 CN. Hồ Thanh Xuân Nghiên cứu viên
6 KS. Phạm Cao Bách Nghiên cứu viên
7 CN. Nguyễn Trọng Vượng Nghiên cứu viên

3. Chức năng, nhiệm vụ, lĩnh vực nghiên cứu

-         Nghiên cứu sử dụng và phát triển nguồn nguyên liệu các hợp chất thiên nhiên để sản xuất các chất điều hòa sinh trưởng, các chất bảo quản nông sản và thực phẩm, các loại thuốc trừ sâu sinh học dùng cho nông nghiệp và bảo vệ môi trường.

-         Nghiên cứu điều tra, xác lập các giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao chất lượng, số lượng và giá trị các tinh chất - gia vị truyền thống của Việt Nam.

-         Nghiên cứu, điều tra, sử dụng nguồn than bùn, nguyên liệu khoáng và tái chế các chất có nguồn gốc hữu cơ (phế thải trong sản xuất, chế biến nông sản và thực phẩm, mùn rác thải, bùn thải…) để sản xuất các chế phẩm sinh học và các loại phân bón hữu cơ vinh.

-         Hợp tác liên doanh, liên kết với các tổ chức khoa học và công nghệ, các đơn vị sản xuất, kinh doanh và dịch vụ ở trong và ngoài nước để đào tạo, chuyển giao công nghệ, sản xuất, kinh doanh các sản phẩm do đơn vị tạo ra và thực hiện các dịch vụ hoạt động khoa học công nghệ theo quy định của pháp luật. Từng bước chuyển đổi hoạt động theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm.

4. Kết quả nổi bật

  • Về khoa học và công nghệ 

Đã tham gia chủ trì 2 dự án Độc lập cấp Nhà nước, 1 đề tài cấp Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, 1 đề tài  Độc lập cấp Nhà nước, 10 đề tài cấp cơ sở.

  • Các hướng nghiên cứu chính 

+         Tạo ra các chế phẩm sinh học dùng để xử lý nhanh các yếu tố gây ô nhiễm môi trường trong nuôi trồng thủy sản, trong sản xuất và chế biến nông sản.

+         Tái sử dụng các chất thu được trong quá trình xử lý để sản xuất các loại phân bón hữu cơ vi sinh.

+         Sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản bền vững, tạo nông sản và thực phẩm sạch, giảm chi phí giá thành sản phẩm, giúp nông dân và các cơ sở chế biến nông - thủy sản sản xuất có hiệu quả.

+         Điều tra, xác lập các giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao chất lượng, số lượng và giá trị các tinh chất - gia vị.

+         Từ năm 1997 đến năm 2002, phòng đã tập trung nghiên cứu phân lập và chọn lọc được một số chủng vi sinh vật hữu hiệu và phát triển chúng thành chế phẩm vi sinh dùng để sản xuất phân bón hữu cơ vi sinh.

+         Từ năm 2004 đến nay, phòng tập trung nghiên cứu chọn lọc các chủng vi sinh vật hữu hiệu và phát triển thành các chế phẩm sinh học dùng để xử lý ô nhiễm môi trường nước và bùn đáy hồ ao nuôi thủy sản. Các chế phẩm sinh học bao gồm chế phẩm sinh học Hud-5, Hud-567, Hud-9, Hud-10, Biof-Hudavil sử dụng xử lý ô nhiễm cho hồ ao nuôi tôm sú, cá tra có hiệu quả rất tốt, có thể cạnh tranh với hành nhập ngoại cả về chất lượng và giá thành.

  • Về hợp tác với các đơn vị sản xuất, kinh doanh. 

+         Công trình của tập thể 10 cán bộ công nhân viên đã được 35 địa phương, doanh nghiệp tiếp nhận sản xuất, tạo công ăn việc làm thường xuyên cho khoảng 1.000 người, hàng năm tạo ra hàng trăm ngàn tấn phân hữu cơ vi sinh chất lượng cao tới hàng ngàn hộ bà con nông dân. Công trình đã góp phần tạo tập quán sử dụng phân vi sinh để cải tạo đất và nâng cao chất lượng nông sản cho nông dân Việt Nam.

+         Hàng chục hội thảo khách hàng do các nhà máy tổ chức với quy mô 4 - 500 cán bộ và bà con nông dân đã được chúng tôi phối hợp tổ chức.

+         Được các doanh nghiệp nước ngoài (Ấn Độ) tại Việt Nam mời tư vấn, được Bộ KH&CN Việt Nam lựa chọn tham gia báo cáo KHCN hàng năm với Đại sứ quán Cộng hòa Pháp tại Hà Nội 12/2009.

+         Công nghệ và sản phẩm bước đầu được ứng dụng ra ngoài lãnh thổ Việt Nam sản phẩm Hudavil đã có mặt ở CFC, Lào.

+         Đã công bố 7 công trình khoa học trên các tạp chí, hội nghị trong nước.

  • Một số thành tích nổi bật 

+         Khi công nghệ đã ổn định chúng tôi mạnh dạn đề nghị Bộ NN&PTNT tổ chức giới thiệu phổ biến kỹ thuật sản xuất cho tất cả các địa phương trong cả nước 4 đợt từ Bắc tới Nam trong 2 năm 2003 - 2004 thông qua Trung tâm Khuyến nông - Khuyến lâm Quốc gia.

+         Công nghệ tạo ra gần 10 loại chế phẩm, sản phẩm được phép sản xuất lưu thông ở Việt Nam, được Cục sở hữu trí tuệ bảo hộ 3 nhãn hiệu và 2 kiểu dáng công nghiệp đến năm 2017 và được cấp Bằng độc quyền giải pháp hữu ích số 899 ngày 21/6/2011.

+         Tập thể và cán bộ của đơn vị được Viện KH&CN Việt Nam, Bộ KH&CN, Trung ương Hội Liên hiệp khoa học kỹ thuật Việt Nam tặng 11 Bằng khen.

+         Được Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam tặng Bằng Lao động sáng tạo; được tặng giải Ba Giải thưởng sáng tạo KH&CN Việt Nam VIFOTEC năm 2001; Bộ KH&CN tặng cúp vàng Techmart Việt Nam năm 2005; Được Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng khen năm 2009.